Hai Bà Trưng - khúc ca bi tráng mở đầu cho công cuộc giành lại độc lập của người Việt

 0  31
Hai Bà Trưng - khúc ca bi tráng mở đầu cho công cuộc giành lại độc lập của người Việt
Hai Bà Trưng - khúc ca bi tráng mở đầu cho công cuộc giành lại độc lập của người Việt
Điều đặc biệt là chuyện về Hai Bà được sử Tàu… chép kỹ hơn cả sử ta. Quyển 86 của “Hậu Hán thư”, phần “Tây Nam di liệt truyện” chép:
“Năm Kiến Vũ thứ 16, thời Hán Quang Vũ Đế, hai người phụ nữ Giao Chỉ là chị em Trưng Trắc (chữ Hán: 徵側) và Trưng Nhị (chữ Hán: 徵貳) tạo phản, tấn công quận phủ. Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh. Bà ta được gả làm vợ cho người xứ Chu Diên tên Thi Sách (chữ Hán: 詩索), là kẻ hùng dũng. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định (chữ Hán: 蘇定) dùng luật pháp để kiềm chế bà ta. Trưng Trắc phẫn nộ, bèn tạo phản.
Những tộc trưởng xứ Man ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố hưởng ứng, bà ta đã chiếm được 65 thành trì và tự xưng là Nữ vương. Thứ sử và Thái thú quận Giao Chỉ chỉ còn biết cố thủ. Hán Quang Vũ Đế vì vậy đã ra lệnh cho quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ chuẩn bị xe, thuyền bè, sửa cầu, mở thông lối đi qua khe núi, trữ lương thảo”.
Có nghĩa là khi nhà Đông Hán thành lập, Hán Quang Vũ Đế tuy chưa dẹp xong các lực lượng cát cứ phương Bắc nhưng vẫn quan tâm tới miền Nam. Tích Quang, Nhâm Diên là Thái thú Giao Chỉ và Thái thú Cửu Chân của nhà Hán, ra sức thực hiện chính sách đồng hóa, thay đổi tập tục từ hôn nhân đến y phục, lễ nghĩa của người Việt bắt theo người Hán, dẫn đến xúc phạm nặng nề tới phong tục cũ nhiều đời của người Việt.
Năm 34, Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ, ách thống trị của nhà Đông Hán càng nặng nề hơn với người Việt. Tô Định tàn bạo và tham lam, tăng cường phục dịch và thuế khóa đối với người Việt để cống nạp cho triều đình nhà Hán. Sự đụng chạm lớn về văn hóa, tín ngưỡng và kinh tế khiến mâu thuẫn giữa người Việt và chế độ thống trị của nhà Hán ngày càng gay gắt. Vì vậy nhiều Lạc tướng người Việt đã đoàn kết nhau lại để chống đối.
Trong các cuộc chiến chống nhà Hán, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay). Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách (có sử gia cho rằng tên đúng là Thi), hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Công việc chuẩn bị dường như mới chỉ bắt đầu thì đã bị chính quyền đô hộ của Đông Hán phát hiện. Thái thú Tô Định thẳng tay đàn áp ngay lập tức. Thi Sách bị Tô Định bắt và giết chết.
Cửa sông Hát (Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ) là nơi Hai Bà khởi phát công cuộc tụ nghĩa và khởi nghĩa. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa là niên hiệu Kiến Vũ thứ 16 tức năm 40 CN. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng và nhân dân quận Giao Chỉ rồi toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ (Bắc Việt Nam và Lưỡng Quảng ngày nay).
Xuất phát từ Hát Môn, Hai Bà đánh phá đô uý trị của giặc ở Hạ Lôi (Mê Linh) sau đó kéo quân từ Mê Linh xuống Tây Vu đánh chiếm Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Từ Cổ Loa, quân của Hai Bà vượt sông Hoàng, sông Đuống đánh chiếm Luy Lâu (nay ở Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị của bọn đô hộ nhà Hán. Liên tiếp bị đánh bại, Thái thú Tô Định cùng đội quân cai trị chạy trốn về nước. Chỉ trong vòng hai tháng, nghĩa quân Hai Bà Trưng giải phóng toàn bộ đất nước (65 thành), giành chủ quyền về tay dân tộc (nhiều sử gia cho rằng 65 thành này bao gồm cả Lưỡng Quảng).
Mùa hè năm Canh tý (năm 40 CN) Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lỵ sở huyện Mê Linh cũ. Bà Trưng Nhị được phong là Bình khôi Công chúa. Các tướng sĩ khác đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân cả nước được xá thuế hai năm liền.
Hán Quan Vũ Đế Lưu Tú, vị hoàng đế trung hưng nhà Hán, mở ra triều Đông Hán tất nhiên không chịu ngồi yên. “Hậu Hán thư” chép tiếp:
“Năm thứ 18 , Quang Vũ Đế sai Phục Ba tướng quân Mã Viện (chữ Hán: 馬援), Trung lang tướng Lưu Long (chữ Hán: 劉隆) và Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí (chữ Hán: 段志) dẫn quân Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô hơn vạn người đi thảo phạt. Vào mùa hè tháng 4 năm 43, Mã Viện phá Giao Chỉ, trảm Trưng Trắc và Trưng Nhị, những kẻ đồng đảng đầu hàng hoặc giải tán. Tiến đánh bọn Đô Dương (chữ Hán: 都陽) ở Cửu Chân, phá tan và bắt hàng phục. Bắt hơn 300 kẻ cầm đầu dời đi Linh Lăng (chữ Hán: 零陵). Vùng Lĩnh Biểu (chữ Hán: 領表) coi như bình định.”
Vậy là ngay sau khi Hai Bà khôi phục nền độc lập được 2 năm, mùa hè năm 42 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 17), nhà Đông Hán phong Mã Viện làm phục Ba tướng quân, thống lĩnh quân sĩ sang đánh nước ta. Sau khi chiếm lại được các thành trì ở Lưỡng Quảng, mùa hè năm 43 (niên hiệu Kiến Vũ thứ 18), quân Mã Viện tiến qua Long Biên, Tây Vu đến Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa.
Hai Bà Trưng đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đón đánh quân Hán. Mã Viện là viên tướng dày dặn kinh nghiệm trận mạc (câu “da ngựa bọc thây” là của ông ta), quân đông và thiện chiến, thủy bộ phối hợp chặt chẽ. Tương quan lực lượng quá chênh lệch, thấy không thể kéo dài thời gian cầm cự với Mã Viện được nữa. Trưng Trắc quyết định rút quân khỏi Lãng Bạc, lui về giữ thành Cổ Loa.
Thành Cổ Loa kiên cố, vốn là kinh đô cũ của Âu Lạc, thủy bộ liên hoàn đã được Trưng Vương sử dụng, khai thác tất cả lợi thế của nó để hy vọng chặn đứng và tiêu diệt đoàn quân xâm lược đã giành được thế chủ động và đang ào ạt tiến đến. Lúc này chiến trường trải rộng khắp vùng Từ Sơn, Tiên Du, Đông Anh và nhất là khu vực xung quanh Cổ Loa. Nhiều tướng lĩnh của Trưng Vương đã chiến đấu và hy sinh trong những ngày tháng này như Đồng Bảng ở Gia Lộc (Đại Hùng, Đông Anh) Thủy Hải, Đăng Giang ở Đại Vĩ (Hà Vĩ, Liên Hà, Đông Anh)…
Tòa thành Cổ Loa dù kiên cố cũng không giúp Hai Bà bảo toàn được lực lượng trước sức tấn công vũ bão của đạo quân chinh phạt nhà Hán. Hai Bà phải đem quân quay về kinh thành Mê Linh ở Hạ Lôi (Vĩnh Phúc ngày nay). Mã Viện đem quân thuỷ, bộ đuổi theo. Trận chiến cuối cùng diễn ra ác liệt ở Cấm Khê (Phú Thọ ngày nay), Hai Bà bị đánh bại, bị thương và chạy về Hát Môn (Hà Nội). Thế cùng lực kiệt, Hai Bà đã gieo mình mình xuống dòng sông Hát chứ không chịu sa vào tay giặc. Các tướng của Hai Bà cũng bị đánh tan tác, người hi sinh, người bỏ chạy về bản doanh của mình.
Sử ta ghi nhận, trận giáp chiến cuối cùng trước lúc ngã xuống của chị em Hai Bà Trưng với quân nhà Hán là vùng đất Cấm Khê năm Quý Mão (43), nên mới có câu:
“Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế phải liều với sông”.
Dẫu vậy, hiện nay xung quanh những giờ phút cuối cùng của hai nữ anh hùng còn nhiều ý kiến trái chiều nhau. Trong sử chính thống của ta thì cái chết của Hai Bà được Toàn thư ghi rất chung chung:
“Trưng Nữ Vương cùng em gái tên là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều bị thất trận chết”. Ấy là ghi chép trong chính sử. Tuy nhiên, khi nói cụ thể về cái chết của Hai Bà, nguồn sử liệu thật có sự chông vênh nhau.
Ngay như trong “Việt sử lược” cuốn sử được coi là lâu đời nhất của nước ta còn giữ được thì viết Hai Bà Trưng bị giặc giết nhưng lời lẽ xem ra có ảnh hưởng từ sử liệu của Trung Hoa: “Năm thứ 19 (năm 43 Tây lịch), Trắc càng khốn đốn, chạy trốn, bị Viện giết”.
Thời Trần, Lê Tắc khi chạy theo quân Nguyên có viết “An Nam chí lược”. Ông này cũng đề cập đến cái chết của hai vị nữ anh hùng, tất nhiên là trên quan điểm bôi bóng, tô hồng cho chiến công của quân Hậu Hán:
“Mã Viện do đường duyên hải tiến quân, gặp núi thì làm đường, trải hơn 1000 dặm, kéo quân tới Lãng Bạc đánh nhau và đại phá quân Trưng Trắc, rồi đuổi theo tới đất Kim Khê. Đến năm Kiến Võ thứ 19 (43), Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn cả dư đảng, bọn Đô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn nầy chịu đầu hàng, đất Lĩnh Nam đều được bình định”.
Cứ theo ghi chép của Lê Tắc, giữa trận tiền, bà Trưng Nhị bị Mã Viện chém mà chết. Đối với sử Trung Hoa, thì ghi chép về số phận Hai Bà cũng theo hướng trên trực tiếp tiêu diệt được Hai Bà, như “Nam Việt chí” của Thẩm Hoài Viễn có chép rằng Trưng Trắc chạy vào hang Kim Khê, 2 năm sau quân Hán mới bắt được. Ấy nhưng “Thuỷ Kinh chú sớ” của Lịch Đạo Nguyên thì ghi: “Sau Hán sai Phục ba Tướng quân là Mã Viện đem quân sang đánh, Trắc và Nhị chạy vào Kim Khê Cứu, đánh ba năm mới thắng”.
Dù nhiều thuyết khác nhau về kết thúc Hai Bà là vậy, nhưng nay khi nhắc tới việc này, đa phần nghiêng về việc Hai Bà gieo mình xuống dòng Hát Giang mà trẫm mình. Lại vì Hai Bà chết trận, nên theo Ngô Thời Sỹ việc thờ tự hai nữ anh hùng cũng có điểm đáng chú ý:
“Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, ai có mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến lệ cấm. Tục truyền rằng Trưng Vương chết vì việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ, vì giống như máu”. Tương truyền Hai Bà mất nhằm ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão.
Sau khi Hai Bà Trưng thất bại, chế độ giao quyền cai quản cấp huyện ở Bộ Giao Chỉ cho các Lạc tướng không còn, quyền lực của các Lạc tướng, Lạc hầu bị thủ tiêu. Theo như cách gọi của sử gia Madrolle thì chế độ bảo hộ, tự trị chấm dứt, bắt đầu chế độ cai trị trực tiếp. Nhà Hán đặt quan lại cai trị trực tiếp đến cấp huyện.
Trong suốt hơn 2000 năm lịch sử, Hai Bà Trưng cùng rất nhiều bậc nữ lưu bất khuất đã không ngại ngần xả thân khi xã tắc lâm nguy, tạo nên nét lịch sử hào hùng, đặc sắc và bi tráng chỉ riêng nước Việt ta có

Bạn có hào hứng với bài viết này không?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow